Bao hàm
Dẫn nhập
Cho hai tập hợp A và B. Ta nói A là tập con (hay bộ phận) của B nếu mọi phần tử của A đều là phần tử của B. Ký hiệu: A ⊂ B.
Khi A ⊂ B ta nói A bao hàm trong B (hay A con B) hoặc B bao hàm A (hay B chứa A).
Quan hệ A ⊂ B gọi là quan hệ bao hàm.
Bài toán
- sắp xếp vị trí cho phần tử yi ∈ tập B vào tập không gian vị trí A.
Không gian A
Tưởng tượng, không gian là tập vô hạn các vị trí.
Ta có tập không gian (vị trí) xác định A = {x1, x2,…, xn}, xi là một vị trí bất kỳ thuộc không gian A. (không gian A là một tập con của vũ trụ không gian)
Diễn đạt A theo hệ ngôn ngữ Tập hợp: tập không gian A gồm có: vị trí x1, vị trí x2,…, vị trí xn;
Nhưng ở quan hệ (không gian, vị trí) ta có phương án khác để diễn đạt:
Không gian A bao hàm vị trí x1, vị trí x2,…, vị trí xn.
Vị trí xi bất kỳ được bao hàm trong không gian A.
Vùng không gian A được xác định, ta có:
Vùng A là vùng không gian trong A
Vùng ¬ A là vùng không gian ngoài A
Tập sự thứ B: Tập B = {y1, y2,…, ym}, yi là một phần tử bất kỳ thuộc B; là tập hợp có phần tử cần được sắp đặt vào các vị trí trong không gian A.
Tập sắp xếp R = (A, B): Gọi R là tập hợp các cặp sắp xếp (xi, yi) với xi ∈ A, yi ∈ B, trong đó yi là vị trí của xi. R là tập con của tập tích đề các AxB.
Khi đó R = {(x1, y1), (x2, y2), …, (xm, ym)}.
Đồ hình thể hiện sự tương ứng

Toán tập hợp khái niệm ‘quan hệ bao hàm’ như sau:
A bao hàm C: xi ∈ C thì xi ∈ A
B bao hàm D: yi ∈ D thì yi ∈ B
Nghĩa là phần tử ∈ A, và phần tử ∈ C: tương đương.
Ngôn ngữ đã mở rộng ‘quan hệ bao hàm’: Không gian A bao hàm mọi ‘tập con vị trí’ trong nó, và mở rộng: Không gian A bao hàm R.
Kiến tạo ngôn từ ‘full’: Khi m tiến rất gần tới n (chỉ một số lượng cực nhỏ (cực nhỏ so với số lượng của tập A) vị trí xi không được sắp xếp phần tử yi. Khi đó không gian A được diễn đạt là: full – đầy ắp.
Thay tập không gian A bằng một tập chỉ định A’ ta có bài toán sắp xếp vị trí theo thứ tự lượt, phiên.

