Hệ tiền đề - xA & xX

Điểm khởi nguyên Vs sự tồn tại.

Nếu không có 'tập đá móng khởi nguyên' thì lâu đài TRÍ của bạn đang được build trên cát. Mọi người nhận thức được sự thật này, nhưng không ai buid được 'sự khởi nguyên'.

Không bất kỳ người nào làm thì TheOrigdic làm.

Chúng ta tạm thời quy ước hệ tiền đề này là ‘vũ trụ khởi nguyên’ of TheOrigdic thực hành và kiến tạo 'Từ'.

Và khởi nguyên bởi một phạm trù triết học 'sự tồn tại'.


Vũ trụ tập hợp;

Vũ trụ tồn tại xem như là một hiển nhiên.

Chúng ta không xét trước thời điểm khởi nguyên hay xét về nguồn cội của vũ trụ.


Mệnh đề khởi nguyên

: ‘Nó (or x) tồn tại’;

Mệnh đề có giá trị chân lý sai: Không tồn tại.

x không tồn tại dẫn đến (→) không có thứ gì để xét đến: (Nó, không) (vũ trụ là khoảng không vô định, vô cùng, vô tận, trống rỗng)

Mệnh đề có giá trị chân lý đúng: (Nó, tồn tại) ≡ (Nó, (hiện) thật) ≡ (Nó, có);

Chúng ta sẽ mở rộng ‘mệnh đề khởi nguyên’ ở nhánh ngôn từ logic.

(Sự thật, không phải toán học, Tôi có những suy nghĩ khởi nguyên về sự tồn tại từ ngữ pháp Tiếng Anh.)

Kiến tạo từ:

Từ không tồn tại → tồn tại           : sinh, tạo, lập;

Từ tồn tại            → không tồn tại: tử, chết;


Hệ thuộc tính của Nó

Tiền đề: '(Nó, tồn tại) hiển nhiên tồn tại hệ thuộc tính của Nó.'

Ta diễn đạt lại tiền đề trên như sau:

Dẫn chiếu (→) Nó và hệ thuộc tính của Nó là quan hệ.

Hay một cách diễn đạt khác: Mỗi (Nó, tồn tại) tương ứng với một hệ thuộc tính của nó và ta ký hiệu sự tương ứng đó như sau: (Nó, hệ thuộc tính của Nó);

Nó

Tương ứng

hệ thuộc tính của Nó

Quan hệ

Ghi nhớ: (Nó; hệ thuộc tính của Nó) hay (Nó; của Nó) là quan hệ khởi nguyên của vũ trụ ngôn từ TheOrigdic.

Kiến tạo từ:

Chuẩn: hệ thuộc tính buộc phải có để Nó là Nó;


Nhãn khởi nguyên Nó

Hàng tỷ năm sau thời điểm khởi nguyên,

Vũ trụ gồm có: (Nó, tồn tại) và có thêm (Tôi, tồn tại).

(Tôi, tồn tại) nhận thức về (Nó, tồn tại):

     = (Nó, nhận thức của con người: thông tin)

     = (Nó, thông tin được gán nhãn: sự thứ, thực thể).

Nhãn: ‘sự thứ’, ‘thực thể’ là nhãn khởi nguyên của Nó mà con người gán cho Nó.

Vũ trụ lúc này trong nhận thức của Tôi đang là một tập vô hạn, hỗn độn: phần tử ‘Nó’ – x; or sự thứ; or thực thể.


Phân lớp và gán nhãn Nó

Thêm hàng triệu năm,

Nhận thức của con người về Nó đã phát triển vượt bậc so với thời điểm khởi nguyên, ta có:

Nhận thức cảm tính của con người về Nó: Bằng hệ thống giác quan ở hoàn cảnh hiện thật.

Và có thêm nhận thức tư duy: Từ những nhận thức trực tiếp và hiện thật, con người đã khái quát Nó vào hệ [lớp] thuộc tính tương đương (toán học gọi là hệ [lớp] quan hệ tương đương) và ngôn ngữ hóa hệ [lớp] tương đương bằng hệ nhãn tên tương ứng.

Từ cơ sở đó, Tôi đề xuất mô hình khái quát về một Nó - x như sau:

Sự thứ x:    (x, Lx: hệ nhãn x, tên riêng của x)

                   ⇔ (Nó, hệ nhãn mà Nó thuộc về, tên riêng Nó);

x: biểu thị cho sự tồn tại; (x không tồn tại thì không có gì để xét đến)

Lx: hệ nhãn x (hệ nhãn mà x thuộc về).

Một vũ trụ hỗn độn từ đây được sắp xếp trật tự trong nhận thức con người, as viên đá móng khởi nguyên để nhận thức con người tiếp tục vươn tới những thứ cấp cao hơn trong chiếc thang trí tuệ. ('phong thánh' (The Lost symbol, Dan Brown, 2009))


Phép xác định Nó (x)

Thực hiện xác định Nó (x) tức là ta xác định giá trị hiện thật của hệ tùy biến sau:

(x, Lx: hệ nhãn mà x thuộc về, tên riêng x);

x: xác định sự tồn tại của Nó; (x không tồn tại thì không có gì để xét đến);

x tồn tại, ta xác định tiếp Lx: xác định hệ nhãn x (hệ nhãn tên mà Nó thuộc về).

Tên riêng x: xác định tên riêng của Nó nếu được gán nhãn.

Khi ta xác định được: x (sự tồn tại của Nó) và Lx (hệ nhãn x) thì mỗi dẫn chiếu xác định của x và Lx là một tương ứng. (tương ứng x → x)

Mỗi cặp (x, Lx) xác định là một tương ứng xác định. (Hay một tương ứng hiện thật, một tương ứng cụ thể)

Hệ Lx là hệ vô hạn, tư duy của con người về hệ Lx chỉ hữu hạn. Tùy vào ngữ cảnh để chúng ta mở rộng hệ Lx đến đâu. (Ngữ cảnh quyết định đến việc ta cần phải xác định x đến mức độ nào, tức là cần mở rộng hệ Lx đến đâu.)


Quan hệ thuộc về

Từ (Nó, tồn tại) ta xét tiếp ‘quan hệ khởi nguyên’ tiếp theo của vũ trụ: Quan hệ thuộc về phản ánh x là một phần tử của X (X là một tập con của vũ trụ tập hợp);

Kiến tạo từ:

x ∈ X: x thuộc X, x trong X;

x ∉ X: x không thuộc X, x ngoài X;

từ x ∉ X trở thành x ∈ X: tham gia, gia nhập, hợp vào.

từ x ∈ X trở thành x ∉ X: rời (khỏi), ra khỏi, đuổi khỏi (buộc rời khỏi), sa thải (buộc rời khỏi).

Xét 2 Nó: xi, xj;

xi  ∈ X, xj ∉ X: nhãn tên xi, xj riêng biệt;

xi  ∈ X, xj  ∈ X: nhãn tên xi, xj chung tập X;


(tập hợp, quan hệ)

→ ta nhãn tên liên kết (kết nối).

Những Nó (xi) hợp lập một tập hợp (ta gán nhãn tên là tập hợp X) khi và chỉ khi tồn tại ít nhất một quan hệ tương đương r sao cho: với r, mọi phần tử thuộc tập hợp X thuộc cùng một lớp tương đương r.

Phép hợp, ta nhãn tên là: kết.

Khi đó quan hệ tương đương r, ta nhãn tên là quan hệ liên.

Những Nó (xi) liên kết (kết nối) được bằng một r thì hợp lập một tập hợp.


Phép xác định tập hợp

tập hợp X xác định khi ta xác định được phần đa phần tử ‘x - xác định’ thuộc X;

Chúng ta diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học như sau:

Tập X = {(x1,Lx1, tên riêng x1), …, (xn,Lxn, tên riêng xn);

OR tập X = ((xi, Lxi, tên riêng xi) ϵ X | Lxi là hệ (nhãn) tên của x}.


(Nó, tồn tại) ≡ (Nó, năng);

(bất đối xứng (năng, cầu))

Vũ trụ vô cùng vô tận mang năng vô cùng vô tận, là khởi nguyên của sự tồn tại.

Tiền đề: (Nó, tồn tại)  ≡ Nó có năng;

Điều kiện tồn tại: năng của Nó phải được duy trì ở một lượng nhất định. (duy trì sự tồn tại, đối với sinh vật: duy trì sự sống)

Năng của nó chuyển hóa theo thời gian. Vì vậy sinh vật muốn duy trì sự tồn tại (và phát triển) cần một lượng năng bù đắp lượng năng đã được chuyển hóa.

Lượng năng bù đắp đó cũng là một sự chuyển hóa từ tổ hợp (không khí, thức ăn, nước, ở, tình dục) mà thành.

Tức là sinh vật hay con người cần có (không khí, thức ăn, nước, ở, tình dục) để tồn tại.

Cuối cùng thì đích đến của tất cả chúng ta là sự tồn tại, muốn tồn tại phải có năng, năng có được nhờ sự chuyển hóa từ tổ hợp (không khí, thức ăn, nước, ở, tình dục).

Từ đó ta có đẳng thức:

muốn tồn tại ≡ muốn có (không khí, thức ăn, nước, ở, tình dục): gán nhãn tên là ‘cầu’.

Một trong những chuyển hóa quan trọng nhất là chuyển hóa từ năng thành lực (lực là biểu hiện ra bên ngoài của năng). Ta tồn tại, trong ta có năng, năng sinh ra lực tác động vào tự nhiên để cho ta tổ hợp (không khí, thức ăn, nước, ở, tình dục), tổ hợp (không khí, thức ăn, nước, ở, tình dục) chuyển hóa thành năng trong ta. Ở điểm cuối vòng tuần hoàn lượng năng ban đầu trong ta trở lại cân bằng.

Nó - x tồn tại, trong x tồn tại lượng năng a, lượng năng a sinh lượng lực b (a > b) tác động vào tự nhiên và kết quả chuyển hóa ngược lại vào nó một lượng năng b’ (lượng năng b ~ b’).

Bất đối xứng giữa: cầu vô hạn của con người >< năng có hạn: là mâu thuẫn tồn tại hiển nhiên trong xã hội loài người.

Theo dòng thời gian, tư duy còn người phát triển, xã hội loài người phát triển, tổ hợp điều kiện tồn tại (không khí, thức ăn, nước, ở, tình dục) cũng vì đó mà phát triển đến một sắc thái khác: thức ăn – ngon, ở - tiện nghi, tình dục – khoái lạc… kết quả là mâu thuẫn khởi nguyên từ đó thêm sâu sắc.

Tương đương, (x, tự nhiên) sinh ra một lượng năng hữu hạn a << lượng năng cầu b của x.

Bây giờ x không còn là 1 Nó mà một tập nó (X); trong đó: mỗi xi thuộc X thỏa mãn: (xi, tự nhiên) sinh ra một lượng năng hữu hạn ai << lượng năng nhu cầu bi của xi.

Tổng quát hóa ta có tập hợp X = {x1, x2, …, xn}, xi ϵ X sinh tổng lượng năng A và có tổng lượng cầu B, A << B.


Như vậy ở phần Hệ tiền đề này ta đã thực hành và sáng tạo ra hệ ngôn từ khởi nguyên làm cơ sở để phát triển vũ trụ ngôn từ.

Chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục đổi mới và phát triển nó.

Tất nhiên rồi, thân ái!